Các quy định đối với việc đăng ký quyền tác giả

Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan nộp đơn và hồ sơ kèm theo (sau đây gọi chung là đơn) cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.

Vì thế, nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không phải là yêu cầu bắt buộc để được hưởng quyền tác giả, quyền liên quan. Nhưng nếu các chủ thể quyền thực hiện việc đăng ký các quyền của mình tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không phải thực hiện việc chứng minh khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

Các quy định đối với việc đăng ký quyền tác giả
Các quy định đối với việc đăng ký quyền tác giả

Dưới đây là một số quy định đối với việc đăng ký quyền tác giả, cụ thể:

1. Đối tượng đăng ký

– Đối tượng đăng ký quyền tác giả là quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

– Đối tượng đăng ký quyền liên quan là các quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất, bản ghi âm, quyền của tổ chức phát sóng theo quy định tại Bộ luật dân sự và Luật sở hữu trí tuệ

a. Đối với quyền tác giả

Các chủ thể của quyền tác giả là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền nộp đơn đăng ký các quyền của mình đối với các loại hình tác phẩm (là khách thể của quyền) bao gồm:

– Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

– Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

– Tác phẩm báo chí;

– Tác phẩm âm nhạc;

– Tác phẩm sân khấu;

– Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tajo ra theo phương pháp tương tự;

– Tác phẩm tạo hình mỹ thuật ứng dụng;

– Tác phẩm nhiếp ảnh;

– Tác phẩm kiến trúc;

– Bản hoạ đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;

– Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

– Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;

Tác phẩm đăng ký phải là tác phẩm được nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan  (Theo khoản 2 điều 7 Luật sở hữu trí tuệ 2005). Không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ traí với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh (khoản 1 điều 8 Luật sở hữu trí tuệ 2005)

b. Đối với quyền liên quan

Các chủ thể của các quyền liên quan bao gồm người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sống có quyền nộp đơn đăng ký các quyền của mình đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng (là khách thể quyền).

2. Hồ sơ đăng ký

– Tờ khai đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan (1)

– 02 bản sao tác phẩm đăng ký bảo hộ quyền tác giả hoặc bản sao định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan (2)

– Giấy ủy quyền nếu người nộp đơn là người được uỷ quyền (3)

– Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác do được thừa kế , chuyển giao, kế thừa (4)

….Để xem chi tiết hơn về các giấy tờ cần chuẩn bị trong hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả cũng như một số lưu ý khi chuẩn bị hồ sơ cũng như thủ tục đăng ký ra sao, bạn xem chi tiết tại bài viết này: https://tgslaw.vn/thu-tuc-dang-ky-ban-quyen-tac-gia.html

 

3. Thời hạn cấp

15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn hợp lệ. Trường hợp từ chối cấp thì Cục Bản quyền tác giả Văn học – Nghệ thuật phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn.

4. Các trường hợp cấp lại, đổi, huỷ bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan

– Khi giấy chứng nhận bản quyền bị mất, hư hỏng hoặc thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thì Cục bản quyền tác giả văn học – Nghệ thuật tiến hành cấp lại, đổi mới

– Khi người được cấp Giấy chứng nhận bản quyền không phải là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã đăng ký không thuộc đối tượng bảo hộ thì Cục bản quyền tác giả Văn học – Nghệ thuật có quyền huỷ bỏ hiệu lực các giấy chứng nhận đã cấp.

5. Giá trị của Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan

–  Không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

– Thông tin liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan được ghi nhận trong Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan; công bố trên Công báo về quyền tác giả, quyền liên quan; công khai trên “Niên giám đăng ký quyền tác giả Việt Nam” hàng năm và đưa lên website quyền tác gỉa Việt nam.

– Được coi là bằng chứng về quyền tác giả, quyền liên quan đối với tac phẩm, tạo thuận tiện trong việc khai thác, sử dụng tác phẩm, chuyển quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đặc biệt khi có tranh chấp.

Add a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *